Activities of Daily Living - ADL / Sinh Hoạt Hằng Ngày
Activities of Daily Living - ADL là các hoạt động thông thường mà mọi người có xu hướng làm hàng ngày mà không cần sự hỗ trợ. Có sáu loại ADL cơ bản: ăn uống, tắm rửa, ăn mặc, vệ sinh, di chuyển (đi bộ) và khả năng kiềm chế. Khả năng thực hiện các hoạt động ADL của một cá nhân là rất quan trọng nhằm xác định loại hình chăm sóc dài hạn (ví dụ: chăm sóc tại viện dưỡng lão hay chăm sóc tại nhà) và các nhu cầu bảo hiểm cá nhân (ví dụ như chương trình chăm sóc sức khỏe, trợ cấp y tế cho người nghèo hoặc bảo hiểm y tế dài hạn). Gần một nửa số dân Mỹ bước vào tuổi 65 mỗi năm sẽ vào viện dưỡng lão do không có khả năng thực hiện các hoạt động ADL. Trong khi phần lớn những người nhập viện dưỡng lão sẽ sống ở đấy trong một thời gian ngắn (dưới một năm), thì vẫn có khoảng một phần tư số người nhập viện ở lại trên một năm. Thông thường, bảo hiểm cho chi phí điều dưỡng sẽ dành những cho cá nhân không có khả năng thực hiện hai hoạt động hay nhiều hơn trong sáu hoạt động ADL cơ bản.
Active-Share Study / Nghiên Cứu Cổ Phiếu - Chủ Động
Active-Share Study là một nghiên cứu học thuật được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu từ Đại học Yale (Mỹ) vào năm 2006. Nghiên cứu này xem xét tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu trong một danh mục đầu tư của một quỹ tương hỗ, khác biệt như thế nào với tỷ lệ cổ phiếu trong danh mục đầu tư của quỹ tương hỗ khác được lấy làm tiêu chuẩn thị trường (benchmark). Sự khác biệt giữa thành phần (hoặc cấu trúc) tài sản (ở đây hiểu là cổ phiếu) trong quỹ đầu tư này với quỹ chuẩn được đem so sánh (benchmark) càng lớn thì chỉ số Cổ phiếu chủ động (Active-share) càng lớn. Theo nghiên cứu này, thì có một mối tương quan có tính tỉ lệ thuận giữa giá trị chỉ số Cổ phiếu chủ động của một quỹ và hiệu suất (khả năng sinh lời) của quỹ đó so với điểm chuẩn. Ví dụ, một quỹ tương hỗ có tỷ lệ Cổ phiếu chủ động là 75% nghĩa là 75% tài sản (cổ phiếu nó nắm giữ) khác biệt với chỉ số chuẩn của index thị trường, trong khi 25% tài sản còn lại của nó thì khá giống với thành phần của index. Nghiên cứu này cho thấy các quỹ có giá trị của chỉ số Cổ phiếu chủ động càng cao thì sẽ có xu hướng tạo ra nhiều lãi hơn so với các index dùng làm chuẩn so sánh (benchmark). Điều này nghĩa là một quỹ đầu tư càng được quản lý chủ động thì sẽ càng sở hữu nhiều nhà quản lý tài ba.
Actively Managed ETF / Quỹ Hoán Đổi Danh Mục (ETF) Được Quản Lý Chủ Động
Actively Managed ETF là một quỹ hoán đổi danh mục mà trong đó nhà quản lý hoặc một tập thể sẽ đưa ra quyết định về việc phân bổ danh mục đầu tư cơ sở, hay nói cách khác, họ sẽ không tuân theo chiến lược đầu tư thụ động. Một quỹ ETF được quản lý chủ động sẽ có chỉ số làm chuẩn (benchmark index) để so sánh, nhưng các nhà quản lý có thể thay đổi cấu trúc phân bổ của từng phần, thời gian giao dịch của các giao dịch trên thị trường hoặc tách khỏi chỉ số khi họ cảm thấy thích hợp. Lợi nhuận từ hình thức này tạo ra sẽ không giống hoàn hảo như chỉ số cơ sở. Không có quy tắc cứng nhắc nào về việc quỹ được quản lý chủ động sẽ kém hiệu quả hoặc vượt trội hơn so với hình thức quản lý quỹ ETF thụ động. Các quỹ ETF được quản lý thụ động ít nhất có thể dựa vào việc theo dõi chính xác các chỉ số (index), và điều này cho phép các nhà đầu tư biết chính xác các loại cổ phiếu và lược đồ rủi ro của quỹ. Hình thức này sẽ giúp giữ cho một danh mục đầu tư đa dạng phù hợp với mong đợi của nhà đầu tư. Tuy nhiên, các quỹ được quản lý chủ động có quyền tự do giao dịch bên ngoài các chỉ số chuẩn (benchmark index), điều này khiến các nhà đầu tư gặp khó khăn hơn trong việc dự đoán cấu trúc của danh mục đầu tư trong tương lai.
Active Tranche / Đợt Nghĩa Vụ Trả Nợ Cầm Cố Thế Chấp Chủ Động
Active Tranche là một đợt nghĩa vụ trả nợ cầm cố thế chấp (CMO) mà thường nhận các khoản thanh toán gốc để chuyển cho các nhà đầu tư của mình. Mặc dù tiền lãi được trả cho tất cả các đợt của một CMO thường là thời điểm CMO được phát hành lần đầu tiên, tuy nhiên các khoản thanh toán gốc ở mỗi đợt trả thường được thực hiện theo một lịch trình đã xác định trong bản cáo bạch CMO. Một đợt nghĩa vụ trả nợ cầm cố thế chấp được coi là đợt trả chủ động là khi nó nhận được (và trả cho các nhà đầu tư) các khoản thanh toán gốc theo lịch, ngoài lãi suất. Sau khi một đợt trả của CMO nhận được khoản thanh toán gốc cuối cùng, thì nó sẽ hoàn thành được một đợt trả. Đợt trả theo sau đó sẽ trở thành lượt trả chủ động. Quá trình sẽ tiếp tục cho đến khi tất cả các đợt trả trong CMO được hoàn thành.
Active Retention / Tích Lũy Chủ Động
Active Retention là hoạt động phòng chống các tổn thất thông qua việc chỉ định các khoản tiền cụ thể để trả cho số tiền tổn thất dự kiến trong tương lai. Hoạt động này trái ngược với tích lũy thụ động - không có khoản tiền nào được dành dụm để bù đắp các tổn thất dự kiến. Quá trình tích lũy chủ động có thể chống lại các tổn thất thường xuyên với số lượng tiền tương đối nhỏ. Hoạt động này được coi là một hình thức tự bảo hiểm. Một trong những lợi ích của tích lũy chủ động là tránh được các chi phí hành chính liên quan đến việc tìm kiếm bảo hiểm từ một bên khác.
Active Participant Status / Tình Trạng Tham Gia Chủ Động Của Nhân Viên
Active Participant Status là một bản tham chiếu cho thấy mức độ tham gia của một cá nhân vào kế hoạch nghỉ hưu do nhà tuyển dụng tài trợ. Những kế hoạch có đủ điều kiện phải bao gồm: 1. Các chính sách nghỉ hưu hợp lệ như chính sách chia sẻ lợi nhuận, chính sách hưu trí có mức hưởng xác định, chính sách hưu trí có mức đóng góp cố định, hay chính sách nghỉ hưu mục tiêu và chương trình nghỉ hưu 401 (k)2. Quỹ hưu trí cá nhân (SEP IRAs)3. Kế hoạch lương hưu của các công ty (SIMPLE IRAs)4. Chương trình nghỉ hưu 403 (b) 5. Kế hoạch niên kim hợp lệ 6. Quỹ tín thác hưu trí của nhân viên (được thành lậpc ra trước ngày 25 tháng 6 năm 1959)7. Một kế hoạch nghỉ hưu được Hòa Kỳ, các tiểu bang hay chính quyền các cấp hay một cơ quan ban hành luật cùng với bất kỳ nhóm ngành nào của Hoa Kỳ thiết lập Thông thường, chủ lao động sẽ phản ánh mức độ tham gia chủ động của nhân viên trên Mẫu W-2 bằng cách kiểm tra các ô lựa chọn trên bản 'Kế hoạch Hưu trí'. Nhân viên cũng nên cùng kiểm tra với chủ lao động của họ.
Active Money / Tiền Tệ Trong Lưu Thông
Active Money là tổng giá trị của tiền xu và tiền giấy đang lưu hành trong công chúng. Lượng tiền tệ lưu thông dao động theo mùa, hàng tháng, hàng tuần và hàng ngày. Tại Hoa Kỳ, Ngân hàng Dự trữ Liên bang phân phối tiền tệ mới cho Bộ Tài chính Hoa Kỳ. Các ngân hàng cho khách hàng vay tiền, các khoản tiền này sẽ được phân loại là tiền trong lưu thông khi chúng được lưu thông một cách chủ động Tiền tệ trong lưu thông bao gồm tất cả tiền xu và tiền giấy nằm ở trong công chúng. Do nhu cầu từ nước ngoài rất cao nên phần lớn tiền mặt đô được lưu hành ở ngoài Hoa Kỳ. Nhu cầu tiền mặt thay đổi tương đương với tổng lượng tiền trong lưu thông cũng liên tục biến động. Ví dụ, mọi người thường được trả lương hoặc rút tiền từ ATM vào cuối tuần, do đó, lượng tiền trong lưu thông vào thứ Hai sẽ cao hơn so với thứ Sáu. Nhu cầu công chúng về tiền mặt giảm vào một số thời điểm - ví dụ như sau mùa lễ
Active Management / Quản Lý Chủ Động
Active Management là việc sử dụng yếu tố con người, ví dụ như một nhà quản lý, đồng quản lý hoặc một nhóm các nhà quản lý, để chủ động quản lý danh mục đầu tư của quỹ. Các nhà quản lý chủ động sẽ dựa vào nghiên cứu phân tích, dự báo, các đánh giá cũng như kinh nghiệm của riêng họ trong việc đưa ra các quyết định đầu tư về việc mua, nắm giữ và bán chứng khoán. Ngược lại với quản lý tích cực là quản lý thụ động, hay được biết với tên gọi là "lập chỉ mục". Các nhà đầu tư tin vào quản lý chủ động không tuân theo giả thuyết thị trường hiệu quả. Họ tin rằng có thể thu lợi nhuận từ thị trường chứng khoán thông qua bất kỳ chiến lược nào nhằm xác định chứng khoán bị định giá sai. Các công ty đầu tư và quỹ tài trợ tin rằng họ thể vượt trội so với thị trường và họ thuê các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp để quản lý một hoặc nhiều quỹ tương hỗ của công ty. Mục tiêu với quản lý chủ động là tạo ra lợi nhuận tốt hơn so với việc sử dụng các chỉ số của quản lý thụ động. Ví dụ, một người quản lý quỹ chứng khoán vốn hóa lớn sẽ tìm cách đánh bại hiệu suất sinh lời của chỉ số chứng khoán 500 của Standard & Poor. Tuy nhiên, đối với phần lớn các nhà quản lý chủ động, điều này rất khó khăn. Hiện tượng này chỉ đơn giản là sự phản ánh mức độ khó khăn để đánh bại được thị trường, cho dù người quản lý có khôn ngoan đến thế nào.
Active Index Fund / Quỹ Chỉ Số Chủ Động
Active Index Fund là một loại quỹ chỉ số mà người quản lý quỹ dựa trên tỷ lệ đầu tư ban đầu của quỹ theo chỉ số chuẩn mà người quản lý đang cố gắng theo dõi, và sau đó tiến hành thêm những gì anh ta/cô ta tin là cổ phiếu có hiệu suất cao hơn không liên quan đến chỉ số cơ bản. Người quản lý quỹ sau đó sẽ chủ động quản lý thành phần của các cổ phiếu không có điểm chuẩn này để kiếm được lợi suất vượt quá chỉ số chuẩn. Người quản lý quỹ cố gắng tạo ra một phiên bản quỹ chỉ số chủ động của Chỉ số Standard & Poor's 500 (S & P 500) sẽ mua và định kỳ cân bằng lại tất cả các cổ phiếu để phù hợp với tỷ lệ được tìm thấy trong S&P 500 thực tế. Ngoài ra, người quản lý sẽ thêm cổ phiếu họ tin rằng sẽ hoạt động mạnh mẽ. Ví dụ, nếu người quản lý tin rằng chất bán dẫn sẽ nổi trong quý tiếp theo; nhiều cổ phiếu bán dẫn sẽ được thêm vào danh mục đầu tư. Mặc dù có thể một số nhà quản lý quỹ có thể sẽ đánh bại đáng kể chỉ số chuẩn cơ bản bằng cách sử dụng các chiến lược, chẳng hạn như thời gian thị trường, sẽ không được đảm bảo. Hơn nữa, khía cạnh quản lý tích cực của quỹ có thể sẽ phải chịu các chi phí cao hơn, có thể bị ăn mất một số và có lẽ tất cả lợi nhuận thêm kiếm được từ việc quản lý tích cực.
Active Box / Hộp Mở / Treo
Active Box là một địa điểm thực tế trong môi giới lưu giữ chứng khoán. Các chứng khoán này thường được giữ làm tài sản thế chấp cho các vị thế ký quỹ của khách hàng. Khoản ký quỹ này dùng để làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay của người môi giới, đây là các khoản tiền mà ngân hàng cho người môi giới và nhà đầu tư vay. Khoản tiền này được sử dụng để tài trợ cho cổ phần của các nhà môi giới và các khoản đảm bảo cho công ty cùng với trái phiếu đô thị. Tài khoản ký quỹ của khách hàng được tài trợ bằng các khoản vay môi giới. Tài khoản này cho phép các nhà đầu tư mua số lượng lớn chứng khoán bằng các khoản vay môi giới này. Giấy chứng nhận cổ phiếu và giấy chứng nhận trái phiếu được giữ tại active box cho đến khi các khoản vay của tài khoản ký quỹ được thanh toán. Giấy chứng nhận trái phiếu là một tài liệu pháp lý cho phép chủ sở hữu trái phiếu có quyền thu hồi lại các khoản nợ đã được liệt kê trong giấy chứng nhận này. Active box cũng được coi là một hộp mở.
Actionable / Có Thể Hiện Thực Hoá
Actionable là một chỉ thị kinh doanh hoặc chiến lược đầu tư khả thi mà có thể hoàn thành trong tương lai gần. Các nhà quản lý và nhà đầu tư của công ty luôn cố gắng xác định những chiến lược có thể thực hiện được, vì chúng có thể là điều kiện tiên quyết để hoàn thành các mục tiêu trong tương lai và đưa ra các quyết định cấp cao hơn. Cách sử dụng thuật ngữ này khác với định nghĩa pháp lý tiêu chuẩn, khi mà từ này có nghĩa là chứng cứ được cung cấp để có đủ cơ sở để khiếu kiện. Ví dụ, một quỹ tương hỗ có thể dành một tháng để nghiên cứu một công ty, nhưng chỉ khi chuẩn bị có giao dịch thực tế nhằm mua cổ phiếu, quyết định này mới trở thành "có thể hiện thực hoá". Các nhà đầu tư thường tìm đến những thời điểm nhất định trong năm khi các khoản đầu tư của họ ( trong hiện tại hoặc được dự định trước) có thể được thực hiện hóa. Những khoảng thời gian như vậy thường xoay quanh mùa thu nhập, vì đây là thời điểm để đánh giá mục đích mà một công ty đang hướng tới và năng suất hoạt động công ty để hoàn thành tốt các mục tiêu trước đó cho giai đoạn hiện tại có tốt hay không. Một thời điểm nữa mà khi các quyết định đầu tư có thể chuyển từ "dự định" sang "có thể hiện thực hoá" là khi các thay đổi được dựa trên lãi suất ngắn hạn, hoặc đối với những sự thay đổi lớn trong cuộc sống sắp xảy ra như thay đổi công việc, mua nhà hoặc nghỉ hưu
Across The Board / Xu Hướng Giá Thay Đổi Đồng Loạt
Across The Board là một xu hướng định hướng toàn thị trường, hoặc một điều kiện của thị trường mà trong đó hầu hết các cổ phiếu và lĩnh vực đang di chuyển theo cùng một hướng. Những xu hướng này thường được gây ra bởi các sự kiện toàn thị trường. Nếu bạn nghe trên các phương tiện truyền thông tài chính rằng "thị trường chứng khoán tăng giá đồng loạt", điều đó có nghĩa là hầu hết các cổ phiếu trên thị trường đều tăng giá trong ngày giao dịch đó. Thuật ngữ này xuất phát từ sở giao dịch chứng khoán NYSE (New York Stock Exchange), một sàn giao dịch lớn mà từng giá cổ phiếu sẽ được ghi trên đó. Khi phần lớn giá cổ phiếu tăng hoặc giảm thì xu hướng được hiển thị trên sàn giao dịch là "thay đổi đồng loạt".
Acquired Fund Fees And Expenses - AFFE / Lệ Phí Và Chi Phí Quỹ Thu Được - AFFE
Acquired Fund Fees And Expenses - AFFE là một loại chi phí riêng biệt trong bản cáo bạch của đầu tư đa quỹ nhằm cho thấy chi phí hoạt động của các quỹ cơ bản. Mục này đã trở thành một yêu cầu thủ tục kể từ tháng 1 năm 2007 và thông tin được tìm thấy bên dưới mục "Lệ phí và chi phí". Bản đối chiếu các báo cáo quỹ của Morningstar và Standard & Poor chỉ ra rằng các công ty nghiên cứu đầu tư đang báo cáo chỉ số chi phí của đầu tư đa quỹ có bao gồm AFFE. Trước đây, trong nhiều trường hợp, chỉ số chi phí đầu tư đa quỹ được báo cáo là bằng 0, điều đó có nghĩa là trong khi không có bất kỳ chi phí nào phát sinh từ bản thân mỗi quỹ, thì sẽ có các chi phí hoạt động phát sinh từ nhiều quỹ cơ bản khác nhau trong danh mục đầu tư. Thông tin mới về AFFE hiện nay đã trả lời được khúc mắc đó.
Accounting Manual / Cẩm Nang Kế Toán
Accounting Manual là một cuốn cẩm nang có chứa các quy tắc kế toán thích hợp và thông tin khác cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức. Cẩm nang kế toán có thể chứa các hướng dẫn cho các chính sách và thủ tục khác nhau. Những quyển cẩm nang kế toán này cũng thường chỉ định các quy tắc và tiêu chuẩn tổ chức cho các tài khoản của công ty. Việc phân loại các loại tài khoản khác nhau được sử dụng bởi một công ty hoặc tổ chức thường được gọi là biểu đồ. Biểu đồ này cũng thường được bao gồm trong một cuốn cẩm nang kế toán. Mỗi tổ chức sẽ có những quyển cẩm nang khác nhau tùy thuộc vào loại và quy mô của tổ chức.
Cẩm Nang Kế Toán (Accounting Manual) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Cẩm Nang Kế Toán (Accounting Manual) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Accredited Asset Management Specialist - AAMS / Chuyên Gia Quản Lý Tài Sản Được Công Nhận - AAMS
Accredited Asset Management Specialist - AAMS là một danh hiệu chuyên nghiệp được trao bởi Trường Kế hoạch Tài chính cho các chuyên gia tài chính hoàn thành thành công chương trình tự học, vượt qua kỳ thi và đồng ý tuân thủ các quy tắc đạo đức. Những ứng viên thành công kiếm được quyền sử dụng danh hiệu AAMS với tên của họ trong hai năm, điều này có thể cải thiện cơ hội việc làm, danh tiếng chuyên nghiệp và lương. Cứ hai năm một lần, các chuyên gia của AAMS phải hoàn thành 16 giờ học liên tục và trả phí để tiếp tục sử dụng danh hiệu này. Chương trình AAMS được phát triển cùng với một số công ty đầu tư hàng đầu quốc gia. Ứng viên nghiên cứu các trường hợp dựa trên các kịch bản thực tế được thiết kế để chuẩn bị cho họ có hiệu quả trong thế giới thực và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Chương trình tự học bao gồm quá trình quản lý tài sản; nhà đầu tư, chính sách và thay đổi; hiệu suất rủi ro, lợi nhuận và đầu tư; phân bổ và lựa chọn tài sản; chiến lược đầu tư; đánh thuế sản phẩm đầu tư; cơ hội đầu tư cho nghỉ hưu cá nhân; cân nhắc đầu tư cho các chủ doanh nghiệp nhỏ; lương thưởng và kế hoạch lợi ích; sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng đầu tư; quy hoạch bất động sản; và các vấn đề quy định và đạo đức. Các cá nhân có danh hiệu AAMS có thể làm cố vấn tài chính, cố vấn đầu tư đã đăng ký, đại diện đã đăng ký, quản lý quan hệ khách hàng, tư vấn tài chính hoặc cố vấn đầu tư.
Accumulative Swing Index - ASI / Chỉ Số Giá Giao Động Tích Lũy - ASI
Accumulative Swing Index là một chỉ số mà các nhà giao dịch sử dụng để đánh giá xu hướng dài hạn của một chứng khoán bằng cách so sánh các biểu đồ thanh ngang có giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao và thấp trong một phiên giao dịch cụ thể. Khi chỉ số ASI dương, nó cho thấy rằng xu hướng dài hạn sẽ gia tăng và khi chỉ số ASI âm thì có nghĩa là xu hướng dài hạn sẽ giảm dần. Welles Wilder được coi là người đã phát triển nên chỉ số ASI. Mặc dù ASI thường được sử dụng nhiều nhất cho các giao dịch tương lai, tuy nhiên, nó cũng có thể được sử dụng để phân tích xu hướng giá của các loại tài sản khác. ASI có thể được sử dụng cùng với các biểu đồ giá để xác nhận các điểm thay đổi đột phá trên đường xu hướng, bởi vì trong cùng một đường xu hướng thì các điểm này sẽ thay đổi vượt trội trong cả hai tình huống.
AC-DC Option / Quyền Chọn AC-DC
AC-DC Option là một công cụ phát sinh mang lại cho nhà đầu tư quyền - nhưng không phải là nghĩa vụ - mua (quyền chọn mua) hoặc bán (quyền chọn bán) chứng khoán ở một mức giá nhất định (giá xác định) và nhà đầu tư đưa ra quyết định mua hoặc bán tại một thời điểm cụ thể sau khi quyền chọn có hiệu lực, thay vì tại thời điểm mua. Quyền chọn AC-DC về cơ bản là một hình thức quyền chọn, và trong tương lai nó có thể trở thành quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán theo quyết định của người mua. Quyền chọn cũng được gọi là "quyền chọn của người chọn" (chooser option) hay "quyền chọn lưỡng tính" (hermaphrodite option). Giá trị của quyền chọn AC-DC dựa trên một công thức phức tạp mà xem xét đến tất cả các biến số. Tùy chọn AC-DC là một loại quyền chọn lai (exotic option), có nghĩa là nó có điều khoản phức tạp hơn so với quyền chọn truyền thống - các quyền chọn giản đơn (plain - vanilla option)
ACNielsen / Công Ty ACNielsen
ACNielsen là một công ty cung cấp nghiên cứu và phân tích thị trường về phương tiện truyền thông và tương tác người xem. Công Ty ACNielsenlà một phần của Công ty Nielson, công ty này cung cấp cho khách hàng cái nhìn sâu sắc và có giá trị về hành vi của người tiêu dùng cũng như thông tin tiếp thị. Hoạt động này được thực hiện thông qua phương pháp thu thập và đo lường dữ liệu nhằm đánh giá những thứ người tiêu dùng theo dõi và những thứ mà họ mua. ACNielsen nổi tiếng với hệ thống xếp loại Nielsen (Nielsen ratings), hệ thống này sẽ đo lường lượng khán giả xem truyền hình, đài phát thanh và báo chí trên phương tiện truyền thông. Công ty được thành lập bởi Arthur C. Nielsen Sr. vào năm 1923 và được sáp nhập vào năm 1929. Công ty có trụ sở tại New York và là một phần của Tập đoàn Nielsen do tư nhân nắm giữ. Công ty Nielsen cổ phần hóa vào đầu năm 2011 và có văn phòng tại hơn 100 quốc gia. Công ty ACNielsen đo lường hành vi mua sắm và truyền thông của hàng triệu người tiêu dùng trên toàn thế giới. Các nhà đầu tư và các công ty sử dụng hệ thống xếp hạng này để dự đoán xu hướng của người tiêu dùng. Hệ thống này phục vụ cho một số ngành công nghiệp bao gồm truyền hình, đài phát thanh, hàng hóa tiêu dùng nhanh & bán lẻ, các công ty quảng cáo, công ty internet, âm nhạc, trò chơi điện tử và thể thao.
Accumulation Phase / Giai Đoạn Tích Lũy
Accumulation Phase là: 1. Khoảng thời gian khi mà nhà đầu tư niên kim đang trong giai đoạn đầu tích của lũy giá trị tiền mặt của niên kim. Theo sau là giai đoạn thanh toán khi mà các khoản thanh toán sẽ được chi trả cho người nhận trợ cấp hàng năm. 2. Là khoảng thời gian mà một nhà đầu tư sẽ tích lũy giá trị khoản đầu tư thông qua việc tiết kiệm. 1. Khi một người đầu tư tiền vào một niên kim với mục đích chu cấp thu nhập khi về hưu thì người này đang ở trong giai đoạn tích lũy của một vòng đời niên kim. Đầu tư càng nhiều trong giai đoạn tích lũy thì sẽ càng nhận được nhiều hơn trong giai đoạn thanh toán. 2. Trì hoãn tiêu dùng bằng cách tiết kiệm trong giai đoạn tích lũy thường sẽ làm tăng lượng tiêu dùng sau này mà một người có thể có. Thời gian bạn tích lũy càng sớm thì bạn sẽ càng có nhiều lợi thế hơn, chẳng hạn như lãi kép và sự bảo hộ khỏi các chu kỳ kinh doanh.
Accretive Acquisition / Hoạt Động Mua Lại Tích Lũy
Accretive Acquisition là hình thức mua lại sẽ làm tăng thu nhập trên một cổ phần của công ty (EPS). Hoạt động mua lại này thường rất có lợi cho giá trị thị trường của doanh nghiệp vì giá mà công ty mua lại phải trả sẽ thấp hơn mức gia tăng chênh lệch từ hoạt động mua lại mới bổ sung thêm cho thu nhập trên một cổ phẩn của công ty thực hiện hoạt động mua lại. Theo nguyên tắc chung, hoạt động sáp nhập hoặc mua lại tích lũy xảy ra khi hệ số giá trên thu nhập (P/E) của công ty mua lại lớn hơn so với công ty mục tiêu.






